TIME IS GOLD!

NGHE BÀI HÁT

XEM VIDEO CLIP

XEM NGÀY

LIÊN KẾT WEBSITE

Trang hỗ trợ dạy học

Tìm kiếm tư liệu

Lên đầu trang
Xuống cuối trang

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Truyện cười

    TIN NHANH BÁO MỚI

    Danh ngôn cuộc sống

    Vòng quanh đất nước

    Hán việt

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: sưu tầm
    Người gửi: Trần Nam Thanh (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:12' 13-12-2009
    Dung lượng: 68.0 KB
    Số lượt tải: 450
    Số lượt thích: 0 người
    A/ MỞ ĐẦU

    Trong cuộc sống xã hội cũng như trên trường quốc tế, dạy học Tiếng Việt ngày càng khẳng định rõ rệt chức năng xã hội, vị trí và vai trò quan trọng của mình. Điều này toát lên sự trọng yếu của Tiếng Việt và vấn đề dạy học Tiếng Việt ở các nhà trường nói chung, nhà trường tiểu học nói riêng.
    Tiểu học là bậc học khởi đầu trong hệ thống giáo dục, nắm giữ vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần to lớn trong việc quyết định chất lượng giáo dục ở toàn bậc học phổ thông, ở các bậc học đại học và trong suốt cuộc đời con người. Ở nhà trường Tiểu học, Tiếng Việt vừa là môn học chính, vừa là môn công cụ giúp học sinh tiếp thu các môn học khác. Một triết gia Hi lạp cổ đã nói: “ Dạy học không phải là chất đầy vào một cái thùng rỗng mà là thắp sáng lên những ngọn lửa”. Như vậy, đưa lớp từ ngữ Hán- Việt vào chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học không nhằm làm đầy đủ các nội dung chương trình Giáo dục phổ thông mà là giúp học sinh Tiểu học hiểu đúng, có thói quen sử dụng đúng và phù hợp các từ Hán- Việt thông dụng, từ đó, bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy có vai trò to lớn như vậy nhưng thực tế cho thấy: việc dạy học từ ngữ Hán- Việt ở trường Tiểu học đạt hiệu quả chưa cao, giáo viên còn lúng túng trong phương pháp dạy các yếu tố Hán- Việt, từ đó học sinh sinh tiếp thu thụ động, lơ mơ các từ ngữ Hán- Việt, không mạnh dạn thực hành giao tiếp có yếu tố Hán- Việt. Làm thế nào để nâng cao hiệu quả việc dạy học từ ngữ Hán- Việt ở trường Tiểu học? Câu hỏi này thôi thúc tôi chọn đề tài “ Dạy học từ ngữ Hán- Việt qua bài “ Mở rộng vốn từ: Đoàn kết – Nhân hậu” (Luyện từ và câu, tuần 2, lớp 4), nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy học từ ngữ Hán- Việt ở trường Tiểu học.

    B/ NỘI DUNG

    I/ Tổng quan về phương pháp giải nghĩa từ Hán- Việt:
    Lâu nay khi đối lập từ Hán- Việt với từ thuần Việt, chúng ta thường có nói là từ Hán - Việt khó hiểu. Từ Hán- Việt khó hiểu không phải vì chúng có nguồn gốc là từ nước ngoài mà là do khả năng hoạt động (tự do hay hạn chế) của chúng trong tiếng Việt, do khả năng hoạt động ngữ pháp ( tự do hay hạn chế), vị trí, trật tự xuôi hay ngược của các yếu tố trong cấu tạo từ và do sức sản sinh của các yếu tố trong từ và tần số sử dụng của các từ. Chính sự khó hiểu này mà việc dạy học từ Hán- Việt cần phải chú trọng đến các phương pháp giải nghĩa từ Hán- Việt.
    Dạy học từ Hán - Việt ở có thể vận dụng linh hoạt hoặc phối kết hợp các phương pháp giải nghĩa cơ bản sau:
    1. Giải nghĩa từ Hán- Việt bằng cách thuyết minh nghĩa cấu tạo và quan hệ giữa chúng.
    Mỗi yếu tố Hán - Việt tuy đều viết ra được bằng một chữ Hán, có ý nghĩa nhưng vai trò, khả năng hoạt động của các yếu tố trong tiếng Việt lại khác nhau. Do vậy, phải có cách giải nghĩa khác nhau như: giải nghĩa của từ qua nghĩa của các yếu tố trong từ ( còn gọi là “chiết tự”) hoặc giải nghĩa trên cơ sở bắt đầu từ việc giải thích nghĩa các yếu tố ( hiểu nghĩa bóng của từ, của thành ngữ mà nghĩa bóng bao giờ cũng được tạo ra trên cơ sở nghĩa đen, từ nghĩa của các yếu tố ).
    2. Giải nghĩa từ Hán - Việt dựa vào văn cảnh, ngữ cảnh.
    2.1. Đặt từ vào văn cảnh, ngữ cảnh cụ thể: Việc giải nghĩa từ Hán - Việt rất phức tạp, không phải với bất cứ yếu tố nào cũng có thể áp dụng phương pháp “chiết tự” mà còn có thể giải nghĩa bằng đặt từ trong ngữ cảnh cụ thể. Khi từ nằm trong ngữ cảnh, nhờ quan hệ với những yếu tố đi kèm, nghĩa của từ cần xét sẽ được xác định.
    2.2. Tìm hiểu điển tích, điển cố: Một số thành ngữ, tục ngữ Hán- Việt được hình thành từ những câu chuyện dân gian, những điển tích, điển cố. Muốn học sinh Tiểu học hiểu được, nhớ lâu, hứng thú học thì cần giải thích hoặc kể chuyện.
    3. Giải nghĩa từ Hán - Việt bằng cách đối chiếu với từ thuần Việt đồng nghĩa
    Do vay mượn từ nên trong tiếng Việt hiện tượng đồng nghĩa giữa từ Hán- Việt với từ thuần Việt khá
     
    Gửi ý kiến